Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer

Vừa đọc vừa dịch để học thêm tiếng Anh (Đọc tới đâu, dịch tời đó; rảnh lúc nào, đọc và dịch lúc đó). Nếu có sai sót hoặc không đúng, xin thông cảm. Nguồn sách tiếng Anh từ www.gutenberg.org

Thứ Tư, tháng 10 25, 2006

Chương I

THE ADVENTURES OF TOM SAWYER
By
MARK TWAIN
(Samuel Langhorne Clemens)




CHAPTER I

"TOM!"

No answer.

"TOM!"

No answer.

"What's gone with that boy, I wonder? You TOM!"

No answer.
Chương I
- Tom
- Không có tiếng trả lời.
- Tom
- Không có tiếng trả lời.
- Nó đi đâu rồi, con ở đâu, Tom?

The old lady pulled her spectacles down and looked over them about the
room; then she put them up and looked out under them. She seldom or
never looked THROUGH them for so small a thing as a boy; they were her
state pair, the pride of her heart, and were built for "style," not
service--she could have seen through a pair of stove-lids just as well.
She looked perplexed for a moment, and then said, not fiercely, but
still loud enough for the furniture to hear:
Người phụ nữ già đẩy cặp kính trên mắt xuống mũi và quan sát căn phòng, sau đó bà đeo vào và quan sát qua cặp mắt kính. Bà ít khi hoặc không bao giờ nhìn thấy rõ các vật nhỏ, và cả thằng bé khi không có kính. Bà nhìn quanh một lát, rồi cao giọng, nhưng không quá to, đủ để nghe:

"Well, I lay if I get hold of you I'll--"
- Tao àm tòm đựơc mày thì …
She did not finish, for by this time she was bending down and punching
under the bed with the broom, and so she needed breath to punctuate the
punches with. She resurrected nothing but the cat.
Không nói hết câu, bà khom người xuống và dùng cây chổi quét vào hốc giường, nhưng không có gì cả ngoài con mèo.

"I never did see the beat of that boy!
- Vẫn chưa thấy thằng bé này.

She went to the open door and stood in it and looked out among the
tomato vines and "jimpson" weeds that constituted the garden. No Tom.
So she lifted up her voice at an angle calculated for distance and
shouted:
Bà ra mở cửa và nhìn về phía cánh đồng cà chua xen lẫn cỏ dại ngoài khu vườn. Vẫn không thấy Tom đâu. Bà lên giọng gọi to:

"Y-o-u-u TOM!"
TOM.

There was a slight noise behind her and she turned just in time to
seize a small boy by the slack of his roundabout and arrest his flight.
Một tiếng động nhỏ vang lên bên cạnh bà và bà quay lại đúng lúc một thằng bé nhỏ con vừa đi vào.
"There! I might 'a' thought of that closet. What you been doing in
there?"
- Đây rồi. Dì nghĩ rằng con ở nhà kho, làm gì ở đó vậy?
"Nothing."
- Không làm gì cả.
"Nothing! Look at your hands. And look at your mouth. What IS that
truck?"
- Không làm gì à, xem tay của con kìa, cái miệng nữa, cái gì thế này?
"I don't know, aunt."
- Con không biết, thưa dì.
"Well, I know. It's jam--that's what it is. Forty times I've said if
you didn't let that jam alone I'd skin you. Hand me that switch."
- À, mứt đây mà. Nhiều lần dì đã bảo nếu con không bỏ cái việc ăn mứt này dì sẽ lột da con, đưa roi ra dây.
The switch hovered in the air--the peril was desperate--
Cái roi được đưa lên cao, đầy vẻ đe doạ.
"My! Look behind you, aunt!"
- Nhìn phía sau dì kìa.
The old lady whirled round, and snatched her skirts out of danger. The
lad fled on the instant, scrambled up the high board-fence, and
disappeared over it.
Bà dì ngoái lại nhìn sau lưng áo, thằng bé thừa cơ nhảy qua hàng rào và chạy vù biến mất.
His aunt Polly stood surprised a moment, and then broke into a gentle
laugh.
Bà dì Polly ngẩn ra một lúc, sau đó bà tức cười.
"Hang the boy, can't I never learn anything? Ain't he played me tricks
enough like that for me to be looking out for him by this time? But old
fools is the biggest fools there is. Can't learn an old dog new tricks,
as the saying is.
- Cái thằng này, ta lại bị nó lừa mấy lần rồi mà cứ vẫn bị lừa. Chẳng có cái khờ nào giống cái khờ nào.
But my goodness, he never plays them alike, two days,
and how is a body to know what's coming? He 'pears to know just how
long he can torment me before I get my dander up, and he knows if he
can make out to put me off for a minute or make me laugh, it's all down
again and I can't hit him a lick. I ain't doing my duty by that boy,
and that's the Lord's truth, goodness knows. Spare the rod and spile
the child, as the Good Book says.
Nhưng mỗi lần nó lại giở trò khác nhau, và làm sao biết được chuyện gì sẽ xảy ra? Nó biết khi nào mình giận lại cố tìm cách cho mình cười lên, thế là hết giận. Và như vậy là mình không thể đánh nó đựơc nữa. Mình phải gánh trách nhiệm lo cho thằng bé con này, có chúa chứng giám. Thương cho roi cho vọt mà, những quyển sách hay vẫn nói thế.
I'm a laying up sin and suffering for us both, I know. He's full of the Old Scratch, but laws-a-me! he's my own dead sister's boy, poor thing, and I ain't got the heart to lash
him, somehow.
Mình đánh nó thì mình cũng đau khổ vậy, nó là con trai của người chị quá cố của mình, và thật sự mình không nỡ nào muốn đánh nó.
Every time I let him off, my conscience does hurt me so,
and every time I hit him my old heart most breaks. Well-a-well, man
that is born of woman is of few days and full of trouble, as the
Scripture says, and I reckon it's so.
Mỗi lần mình đánh nó là mỗi lần tim mình như bị vỡ ra.
He'll play hookey this evening, *
and [* Southwestern for "afternoon"] I'll just be obleeged to make him
work, to-morrow, to punish him. It's mighty hard to make him work
Saturdays, when all the boys is having holiday, but he hates work more
than he hates anything else, and I've GOT to do some of my duty by him,
or I'll be the ruination of the child."
Nó lại trốn học nữa rồi, sáng mai mình sẽ phạt nó mới được. Sẽ bắt nó làm việc vào thứ Bảy, trong khi tất cả các thằng bé khác đều đi chơi. Nó ghét làm việc hơn ghét bất cứ thứ gì. Mình phải dùng quyền của mình đối với nó, nếu không nó sẽ hư hỏng mất.